Văn hóa nghệ thuật Hàn Quốc

17-07-2014 23:08:11 - Lượt xem: 1833

Văn hóa Hàn Quốc - Tổng quan về Mỹ Thuật, Hội Họa, Điện Ảnh, Kịch, Văn Học, Âm nhạc, Múa...
 

Mỹ thuật

Biểu tượng được biết đến từ xa xa của điêu khắc Hàn Quốc là nghệ thuật chạm khắc đá trên những vách đá ở hai bên bờ sông Bangudae tại Ulsan. Ở các miền khác của đất nước, người ta đã khai quật được những bức tượng nhỏ bằng đất sét, xương và đá của người và động vật. Tại những làng mạc của Thời kỳ đồ đá mới, các đồ gốm hình lỗ tổ ong là hình thức nghệ thuật chủ yếu của thời kỳ này. Với sự xuất hiện của nông nghiệp, những kiểu dáng cong đã thay thế loại hình tổ ong.

Người ta đã tìm thấy trên khắp đất nước Hàn Quốc một ít mẫu vật từ thời tiền sử. Căn cứ vào hình dáng trừu tượng của những mẫu vật này, người ta cho là chúng được tạo ra vì mục đích tôn giáo. Rất nhiều sản phẩm bằng đồng đa được sản xuất, nhưng truyền thống của Thời kỳ đồ đá mới vẫn kéo dài và nghệ thuật của thời kỳ này tiếp tục gắn liền với tôn giáo.

Trong suốt thời kỳ Ba vương quốc, khi một trật tự xã hội kiểu mới đang được hình thành, nghệ thuật của Hàn Quốc mang tính đơn giản và khỏe khoắn. Tuy nhiên, sự phát triển của Phật giáo đã làm phong phú hơn về nội dung lẫn kỹ thuật của nghệ thuật thời kỳ bấy giờ. Cả ba vương quốc đều nhiệt tình ủng hộ tôn giáo và các sản phẩm điêu khắc các thời kỳ Goguryeo (37 tr.CN - 668 s.CN), Baekje (18 tr.CN - 660 s.CN) và Silla (57 tr.CN- 935 s.CN) đều mang các hình ảnh đức Phật.



Những tác phẩm hàng đầu gồm có tượng Tathagata Buddha trong tư thế đứng được mạ đồng và tượng Maitreya cũng được mạ đồng trong tư thế nửa ngồi, cả hai đều đang nở những nụ cười hiền từ. Các tượng Baekje, trong đó có tượng Phật bằng đá trên một vách đá tại Seosan, thể hiện những đường nét và nụ cười thanh nhã trên khuôn mặt những yếu tố điển hình của nghệ thuật thời kỳ Baekje. Mặc dù nghệ thuật của thời Silla thống nhất cho thấy những kỹ thuật mang tính hiện thực, nó vẫn tìm kiếm sự hài hòa xã hội và chính trị. Trong giai đoạn này, nghệ thuật thủ công kim loại đã tạo nên một trạng thái tinh tế. Từ những ngôi mộ lớn của tầng lớp quý tộc Silla, các nhà khảo cổ đã khám phá ra những bộ sưu tập phong phú những đồ trang sức bằng vàng của vua và hoàng hậu, trong đó có vương miện, vòng đeo tai, vòng cổ và thắt lưng.

Những đường nét khắc trổ dài, hẹp, đều nét và sự phối hợp hài hòa đã làm tăng vẻ đẹp chiếc vương miện được trang điểm bằng hình cây thẳng đứng. Những đồ trang kim bằng vàng và những hạt ngọc bích hình dấu phẩy gắn bằng những dây kim loại nhỏ được dùng để trang hoàng những dây tòn ten. Những chiếc khuyên tai được chạm vàng bạc một cách tinh tế và có dạng hột.

Các nghệ nhân thời kỳ Silla cũng nổi trội trong việc sản xuất những chiếc chuông chùa. Những chiếc chuông đồng nổi tiếng do thiết kế thanh nhã, âm thanh vang xa và kích cỡ to lớn.

Chiếc chuông thiêng cuối thế kỷ thứ 8 của vua Seongdeok, hay còn được nhiều người biết đến như Emille, là chuông lớn nhất trong số các chuông chùa còn tồn tại hiện nay ở Hàn Quốc. Chuông được trang trí với những phần chạm khắc tinh xảo hình hoa sen, hoa, ngọn lửa và các thiên nữ.

Người ta có thể đánh giá một cách tốt nhất nghệ thuật của thời kỳ Goryeo (918-1392) bằng các đồ sứ men ngọc bích với màu sắc rất đẹp, đặc biệt màu xanh ngọc bích, với hàng loạt các sản phẩm khác nhau, trong đó có bình, lọ rượu, đĩa, tách, lư hương và những lọ hoa với những trang trí tinh tế được khắc, đắp nổi hoặc dát. Những tác phẩm men ngọc bích này được sản xuất trong thế kỷ 12 và 13 với mục đích rõ ràng là trưng bày chứ không phải sử dụng. Có thể nói đồ gồm men ngọc bích này thể hiện khát vọng về một thế giới tâm linh vượt lên trên khỏi cuộc sống trần tục.

Các kỹ thuật của đồ gồm men ngọc bích này được truyền sang Goryeo từ đời Tống của Trung Quốc (960-1279), nhưng những ảnh hưởng của Trung Quốc đã hầu như mất đi vào nửa đầu của thế kỷ 12 khi người Hàn Quốc phát huy mạnh mẽ tinh thần sáng tạo của mình. Kỹ thuật dát, được các thợ gốm sáng tạo nên, bao gồm việc chạm các hình trang trí vào đất sét rồi đổ khuôn với nước áo tráng ngoài màu trắng hay đen.

Phần nước áo tráng thừa được cạo bỏ trước khi cho vào nung. Những trang trí này, được thực hiện một cách đơn giản và có chừng mực ở giai đoạn đầu (của nghề gốm), tạo nên một vẻ đẹp tinh tế và cao quý cho những lọ gốm men ngọc bích. Đến cuối thế kỷ 13, các thợ gốm đã sử dụng quá mức cách trang trí này và sự khéo léo vì thế đã giảm đi.

Sau thời kỳ xâm lược của Mông Cổ, những kiểu mẫu dát trở nên thô kệch. Kỹ thuật làm gốm men ngọc bích đã biến mất vào thế kỷ 14, những nghệ sĩ thời nay đã phục hồi lại. Ngày nay, có rất nhiều người đã cống hiến cả cuộc đời và sức lực của họ nhằm phục hồi cheongja - gốm màu xanh ngọc bích của Goryeo. Gốm ngọc bích tiêu biểu cho thời kỳ Goryeo cũng như gốm trắng đối với thời kỳ Joseon. Các nghệ sĩ gốm của thời kỳ Joseon thoạt đầu sáng tạo ra buncheong, một loại đồ đá màu xám với nước áo màu trắng và nước men màu xanh xám, nhưng cùng với thời gian, họ cũng đã phát triển loại này thành loại sứ trắng.

 Ảnh hưởng xã hội bao trùm của thời kỳ Joseon là đạo Khổng. Sự thay đổi từ thời đại Goryeo với phong thái ung dung của tầng lớp quý tộc sang lý tưởng xã hội mang tính chất thực dụng của đạo Khổng đã được phản ánh vào nghệ thuật gốm của thời kỳ này.

Người ta chọn gốm trắng để thể hiện những đường nét giản dị trên những hình dáng cong của đồ gốm Goryeo. Trong suốt thời kỳ Joseon, chính phủ điều khiển các lò gốm và sản xuất ra gốm trắng cùng với gốm men ngọc bích xanh dát các hình trang trí.

Gốm trắng với lớp nền tráng men màu xanh thường được trang trí bằng các kiểu mẫu của Sagunja (bốn loại cây tượng trưng cho tiết hạnh được ưa chuộng vì là biểu tượng của nghệ thuật truyền thống), ngoài ra có hoa mận, phong lan, hoa cúc, cây tre và hoa sen, các kiểu dáng kỳ lạ và cỏ thu. Các nghệ nhân gốm ngày nay đang tích cực nghiên cứu và phục hồi đồ gốm thời kỳ Joseon.

Người ta có thể nhìn thấy những nỗ lực của các nghệ nhân gốm phục hồi nghệ thuật này những ngày đã qua ở Incheon, một thành phố nhỏ cáchSeoul một giờ ô tô.

Kiểu mẫu kiến trúc của Hàn Quốc có thể chia ra làm hai phong cách chính căn cứ vào cấu trúc. Đối với kiến trúc được dùng trong các cung đình và điện thờ, các kiến trúc sư Hàn Quốc cổ dùng hệ thống công xon, còn nhà ở của những người dân thường lợp mái rạ và ondol - sàn được sưởi nóng. Tầng lớp thượng lưu thường xây nhà lớn, mái lợp ngói có những nét cong uyển chuyển và nổi bật với những mái chìa hơi cao hơn một chút.

Thời kỳ này, các kiến trúc sư bận tâm với việc làm thế nào để hài hoà giữa kết cấu của công trình với quang cảnh tự nhiên xung quanh. Trong số các kiểu dáng kiến trúc cổ đại, cấu trúc Muryangsujeon (Sảnh của cuộc sống vĩnh hằng) bằng gỗ của thời Goryeo vẫn còn ở đền Buseoksa thuộc khu vực Yeongju, tỉnh Gyeongsangbuk-do. Người ta cho là sảnh này được xây dựng ở thế kỷ 13.

Kiến trúc phương Tây du nhập vào Hàn Quốc cuối thế kỷ 19 khi các kiến trúc sư và kỹ sư người nước ngoài xây nhà thờ và văn phòng cho các tòa công sứ nước ngoài.

Từ những năm 1960, trong công cuộc công nghiệp hóa và thành thị hóa Hàn Quốc, Chính phủ đã đẩy mạnh việc quy hoạch phát triển do đó một số các tòa nhà cổ, đẹp đã bị phá dỡ để thay bằng những công trình kiến trúc mới.

Người ta đã thảo luận nhiều về vấn đề này trong những năm gần đây khi ý niệm đã được khẳng định giá trị qua thời gian về những tòa nhà hòa hợp với thiên nhiên đang được phục hồi.

Văn học

Văn học Hàn Quốc được chia theo thứ tự thời gian thành thời kỳ văn học cổ điển và văn học hiện đại. Văn học cổ điển của Hàn Quốc phát triển trên bối cảnh tín ngưỡng dân gian của người Hàn Quốc, nó cũng chịu ảnh hưởng của đạo Lão, đạo Khổng và Phật giáo. Trong số các đạo này, đạo Phật có ảnh hưởng lớn nhất, tiếp theo là ảnh hưởng lớn của đạo Khổng trong thời kỳ Joseon.

Mặt khác, văn học hiện đại của Hàn Quốc phát triển từ những mối giao lưu với văn hóa phương Tây, tiếp theo quá trình hiện đại hóa. Không chỉ có tư tưởng của Thiên chúa giáo mà nhiều khuynh hướng và ảnh hưởng nghệ thuật khác nhau đã được du nhập từ phương Tây. Sau khi "Một nền giáo dục mới" và "Phong trào ngôn ngữ và văn học quốc gia" phát triển, hệ thống chữ viết Trung Quốc, tiêu biểu theo truyền thống cho nền văn hóa của giai cấp thống trị đã mất đi chức năng văn hóa - xã hội mà nó vẫn có từ trước.

Thơ ca Hyangga của thời kỳ Silla là dấu hiệu sự khởi đầu của một thể thơ độc đáo của văn học Hàn Quốc. Hyangga được ghi chép bằng chữ hyangchal, trong đó chữ Hàn được viết bằng các "âm" (eum) và "nghĩa" (hun) của Hán tự. Mười bốn bài thơ theo phong cách hyangga của thời kỳ Silla đã được lưu giữ trong Samgungnyusa (Tam quốc lưu sử).

Đặc điểm của văn học thời kỳ Goryeo là sử dụng ngày càng nhiều Hán tự; Hyangga biến mất và Goryeogayo (các bài ca của thời kỳ Goryeo) xuất hiện và được lưu truyền như một phong cách văn học truyền miệng tới thời kỳ Joseon.

Việc sáng tạo bảng chữ cái tiếng Hàn - hangeul vào đầu thời kỳ Joseon là một bước ngoặt lớn trong lịch sử văn học Hàn Quốc. Akjang (bản dàn bè nhạc) được viết bằng chữ Hàn, chẳng hạn tập Yongbieocheonga (Những bài hát về những con rồng bay qua thiên Đường).

Sijo (những điệu hát hiện hành) tiêu biểu cho thơ ca thời kỳ Joseon. Thể thơ này được hình thành vào cuối thời kỳ Goryeo, nhưng nó phát triển mạnh dưới hệ tư tưởng chủ đạo mới của thời Joseon thành bài ca Đạo tân Khổng. Là một thể khác của thơ ca thời kỳ Joseon, gasa được xếp hạng thích đáng vào phạm trù thơ, nhưng nội dung của nó không giới hạn trong sự thể hiện tình cảm cá nhân. Nó thường chứa đựng những lời răn bảo về đạo đức.

Cùng với thời gian, bảng chữ cái tiếng Hàn, Hangeul, được sử dụng rộng rãi trong xã hội Hàn Quốc và góp phần chủ yếu vào sự lớn mạnh và phát triển của việc nghiên cứu ngôn ngữ và văn học Hàn Quốc.

Văn học hiện đại Hàn Quốc hình thành trên bối cảnh của một xã hội phong kiến suy tàn thời kỳ Joseon và sự du nhập của những ý tưởng mới mẻ từ phương Tây.

Là một trong những phong cách của văn học hiện đại Hàn Quốc, changga (loại hình bài ca mới) và sinchesi (phong cách thơ ca mới) được công nhận là một trong những phong cách thơ mới.

Hội họa

Hội họa Hàn Quốc biểu hiện sức mạnh sáng tạo và khiếu thẩm mỹ của người dân Hàn Quốc.

Hội họa Hàn Quốc đã có những bước phát triển vững chãi trong suốt một thời kỳ lịch sử dài từ thời Ba vương quốc (57 tr.CN - 668 s.CN) cho tới thời hiện đại.

Những tác phẩm hội họa nổi tiếng nhất của thời Ba vương quốc là những bức tranh tường trong những ngôi mộ cổ của thời kỳ Goguryeo được vẽ trên bốn bức tường và trên trần của những phòng an táng. Hội họa của thời kỳ Goguryeo sống động và nhịp nhàng, còn hội họa thời kỳ Silla trầm tư và tỉ mỉ. Nghệ thuật của thời kỳ Silla hưng thịnh sau khi Ba vương quốc thống nhất vào thế kỷ thứ 7.

Vào thời kỳ Goryeo (918 - 1392), hội họa phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau, kế thừa truyền thống nghệ thuật của thời kỳ Silla thống nhất và đánh dấu thế kỷ vàng son của hội họa. Những nghệ sĩ của thế kỷ đã xây dựng nên những bức tranh tường trong các đền và các bức tranh cuốn của Phật giáo, đánh dấu thời kỳ Phật giáo hưng thịnh tại Hàn Quốc.

Trong thời kỳ Joseon, các họa sĩ chuyên nghiệp thường sáng tác những tranh phong cảnh theo yêu cầu của các gia đình quý tộc. Vào cuối thế kỷ 18, các họa sĩ bắt đầu chuyển đề tài sang cuộc sống của con người, có lẽ do ảnh hưởng của phong trào Silhak (Học thuyết thực hành) sau khi các nhà truyền giáo của đạo Thiên chúa truyền bá khoa học và kỹ thuật châu Âu vào Hàn Quốc. Hội họa với những chủ đề thế tục đã tạo nên một xu hướng mới được biết đến như "tranh thế tục".

Kim Hong-do đã phủ lên những bức sơn dầu của mình những quang cảnh từ cuộc sống hàng ngày của tầng lớp quý tộc, nông dân, nghệ sĩ và những người buôn bán. Bằng miêu tả tỉ mỉ mà hài hước các chủ đề đã thể hiện bản sắc dân tộc của Hàn Quốc. Những bức tranh của những nghệ sĩ vô danh, mặc dù kém tinh vi về bút pháp so với các học giả nghệ sĩ của đạo Khổng nhưng đề cập nhiều hơn về cuộc sống thường nhật của những người dân thường, những khát vọng và những ước mơ của họ. Những bức tranh này có màu sắc sinh động và thoát khỏi những sự ràng buộc thông thường.

Sau khi Nhật thôn tính Hàn Quốc bằng vũ lực năm 1910, những phong cách truyền thống của hội họa dần dần bị phong cách tranh sơn dầu của phương Tây làm lu mờ - phong cách này được đưa vào trong suốt thời kỳ Nhật chiếm đóng và sau đó đã trở nên thịnh hành. Sau khi Hàn Quốc được giải phóng khỏi ách thống trị của Nhật năm 1945, một số nghệ sĩ kiệt xuất đã hồi sinh truyền thống hội họa Hàn Quốc. Đồng thời nhiều nghệ sĩ Hàn Quốc được đào tạo ở châu Âu và Hoa Kỳ đã giúp cho quê hương của họ tiến kịp với những xu hướng hiện đại của thế giới bên ngoài.

Vào những năm 1950, một tổ chức của Chính phủ, trung tâm Triển lãm Quốc gia Hàn Quốc đã đóng một vai trò chủ đạo trong bước tiến của nghệ thuật Hàn Quốc. Trung tâm này có một không khí kinh viện và thiên về việc chọn những tác phẩm hiện thực. Những nghệ sĩ trẻ phát huy tính sáng tạo trong những tác phẩm của mình, do đó đã đi tìm một nền nghệ thuật phù hợp với thời đại mới. Từ cuối thập niên 60, hội họa hiện đại Hàn Quốc đã bắt đầu chuyển hướng sang tính trừu tượng hình học. Các nghệ sĩ khác quan tâm sâu sắc về các chủ đề truyền đạt sự thống nhất bẩm sinh giữa người và thiên nhiên.

Hội họa Hàn Quốc những năm 1980 thể hiện chủ yếu những phản ứng đối với chủ nghĩa tân thời của những năm 1970. Trong thời kỳ này, các nghệ sĩ nhận thức sâu sắc rằng nghệ thuật phải truyền đi bức thông điệp về các vấn đề xã hội. Từ đó nảy sinh sự quan tâm đối với các vấn đề của chủ nghĩa tân thời và chủ nghĩa hậu tân thời.

Năm 1995, Hội quốc tế Gwangju Biennale được tổ chức. Sự kiện này đã tạo cơ hội cho các nghệ sĩ Hàn Quốc hiện đại được gặp gỡ những nhân vật hàng đầu của thế giới nghệ thuật quốc tế. Nghệ thuật video của Paik Nam-june là một trong những cuộc trưng bày nổi bật nhất.

Ở Hàn Quốc ngày nay, hội họa mang phong cách truyền thống và phương Tây đều được giảng dạy và được các nghệ sĩ theo đuổi, do đó đã tạo ra những cộng đồng mỹ thuật nhiều phong cách nhất trên thế giới. Nhiều nghệ sĩ hội họa Hàn Quốc đang sáng tạo tại New York, Paris và các trung tâm khác của nghệ thuật đương đại.

Âm nhạc và múa

Âm nhạc và múa là những phương tiện phục vụ thờ cúng tôn giáo và truyền thống này đã được giữ gìn trong suốt thời kỳ Ba vương quốc.

Hơn 30 nhạc cụ được sử dụng trong suốt thời kỳ Ba vương quốc, và đặc biệt là hyeonhakgeum (đàn tam thập lục sáo đen) do Wang San-ak của thời kỳ Goryeo tạo ra bằng cách thay đổi đàn tam thập lục bảy dây của Trung Hoa thời kỳ nhà Tấn. Một nhạc cụ nổi tiếng nữa là gayageum (đàn tam thập lục của thời kỳ Gaya), được sử dụng dưới triều Gaya (42 - 562) và được Ureuk truyền tới thời Silla. Ngày nay ở Hàn Quốc người ta vẫn chơi loại đàn gayageum 12 dây này.

Goryeo kế tục nghệ thuật âm nhạc truyền thống của thời kỳ Silla trong những năm đầu, sau đó đã phát triển những phong cách phong phú. Có ba phong cách trong âm nhạc Hàn Quốc vào thời kỳ Goryeo: Dangak, một loại nhạc của thời Đường Trung Quốc, hyangak hay nhạc làng quê và aak hay nhạc cung đình. Triều đại Joseon đã kế thừa một số thể loại nhạc của thời kỳ Goryeo sử dụng trong các nghi lễ ngày nay, đặc biệt các loại nhạc có liên quan đến việc thờ cúng tổ tiên.

Cũng như trong âm nhạc, ở đầu thời kỳ Goryeo người ta ưa thích truyền thống múa của thời Ba vương quốc, nhưng sau đó đã thêm nhiều biến thể của nhạc cung đình và nhạc tôn giáo từ triều đại nhà Tống của Trung Quốc.

Trong triều đại Joseon, âm nhạc được tôn vinh như một yếu tố quan trọng của lễ nghi và các buổi lễ. Vào đầu thời kỳ của triều đại này, hai viện phụ trách những vấn đề về âm nhạc đã được thành lập và đã có những nỗ lực soạn lời cho nhạc.

Kết quả là năm 1493 người ta đã soạn ra một bộ quy tắc âm nhạc được gọi là Akhakgwe-beom. Cuốn sách này đã phân loại nhạc chơi tại cung đình thành ba loại: nhạc tế lễ, nhạc Trung Hoa và nhạc bản xứ. Đặc biệt dưới triều vua Sejongs, người ta đã phát triển nhiều loại nhạc cụ mới. Ngoài nhạc cung đình, các truyền thống cũ của nhạc thế tục như dangak và hyangak vẫn tiếp tục.

Múa dân gian, trong đó có múa nông dân, múa pháp sư và múa tu sĩ, đã trở nên phổ biến trong những năm sau của thời kỳ Joseon, cùng với múa mặt nạ được biết đến như sandaenori và múa rối.

Múa mặt nạ, kết hợp múa với lời hát và kể chuyện, trong đó có yếu tố pháp sư và do đó đã thu hút tầng lớp thường dân. Những buổi trình diễn thường được nổi bật bằng những đoạn trào phúng chế giễu giới quý tộc, điều này đã làm khán giả thường dân thích thú rất nhiều.

Cũng như phong cách múa truyền thống, Đạo Khổng và Đạo Phật có ảnh hưởng đáng kể. Đạo Khổng thường có ảnh hưởng chi phối, trong khi đạo Phật cho thấy một thái độ bao dung thể hiện trong các điệu múa cung đình đẹp mắt cũng như trong các điệu múa pháp sư cầu siêu cho người chết.

Một lượng lớn các điệu múa truyền thống đã bị mai một trong thời kỳ thống trị của thực dân Nhật, cũng như sự công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng ở Hàn Quốc trong những năm 1960 và 1970. Vào những năm 1980, người ta mới bắt đầu nghĩ đến việc phục hồi những điệu múa đã bị quên lãng từ lâu này. Trong số 56 điệu múa cung đình, ngày nay người ta chỉ biết đến một vài điệu.

Trong số những điệu múa này có ba điệu Cheoyongmu (Múa mặt nạ) thời kỳ Silla, Hakchum (Múa hạc) thời kỳ Goryeo và Chunaengjeon (Điệu múa chim sơn ca mùa xuân) thời kỳ Joseon.

Tất cả những điệu múa này đều được chính phủ xếp vào loại “Di sản văn hóa phi vật thể” vì sự bất diệt của nó, còn các nhà trình diễn chuyên nghiệp được ban danh hiệu: “Tài sản văn hóa con người”, danh dự cao nhất được trao tặng cho những nghệ nhân bậc thầy của nghệ thuật và thủ công truyền thống.

Múa hiện đại của Hàn Quốc được phát triển rộng rãi với những người tiên phong như Jo Taek-won và Choe Seung-hui - những nghệ sĩ đã hoạt động tích cực trong thời kỳ chiếm đóng của thực dân Nhật. Sau ngày giải phóng, Công ty Ba lê của Hàn Quốc đã được thành lập năm 1950 và trở thành tổ chức đầu tiên đưa lên sân khấu những buổi biểu diễn ba lê và múa hiện đại.

Lần đầu tiên người ta nghe thấy nhạc phương Tây ở Hàn Quốc khi một tập thánh ca Cơ đốc được đưa vào năm 1893 và bắt đầu được giảng dạy tại các trường năm 1904. Changga, một loại hình bài hát mới hát theo các giai điệu của phương tây, đã phát triển trên khắp đất nước.

Cả nước trải qua những thay đổi mạnh mẽ khi buộc phải mở cửa đối với phương Tây và trải qua thời kỳ thống trị kéo dài của thực dân Nhật, người ta hát changga để nâng cao lòng yêu nước, tinh thần độc lập, một nền giáo dục và văn hóa mới. Năm 1919, Hong Nanpa sáng tác Bongseonhwa (Cây bóng nước) theo kiểu mẫu phong cách  changga.

Sau khi đất nước được giải phóng năm 1945, dàn nhạc theo phong cách phương Tây đầu tiên của Hàn Quốc được thành lập với tên gọi Hội Dàn nhạc yêu nhạc Hàn Quốc. Ngày nay, có tới gần 50 nhà hát tại Seoul và các tỉnh.

Hiện nay ngày càng có nhiều nhạc sĩ Hàn Quốc biểu diễn tại nước ngoài; họ được khán giả hoan nghênh và nhận được nhiều giải thưởng trong các cuộc thi quốc tế có uy tín. Trong số các nghệ sĩ nổi tiếng nhất có nhà chỉ huy dàn nhạc kiêm nghệ sĩ piano Chung Trio, nghệ sĩ piano Chung Myung-whun, nghệ sĩ vi-ô-lông-xen Chung Myung-wha và nghệ sĩ vi-ô-lông Chung Kyung-wha.

Trong số các ca sĩ, các giọng nữ cao Jo Su-mi, Shin Young-ok và Hong Hye-gyong đã tạo nên một sự hiện diện đầy ấn tượng trong cộng đồng âm nhạc quốc tế. Họ đã đóng các vai chính trong các chương trình của Nhà hát nhạc kịch New York và trên một số sân khấu có tiếng khác, ngoài ra còn tham gia làm các album của các hãng âm nhạc nổi tiếng trên thế giới.

Tháng 8-1997, vở "Nữ hoàng cuối cùng", một vở nhạc kịch miêu tả những năm cuối của nền quân chủ Hàn Quốc và nữ hoàng Myeongseong cuối cùng, đã được trình diễn tại New York và được báo chí Mỹ ca ngợi rộng rãi. Vở nhạc kịch - một thiên anh hùng ca - là một cơ hội quý báu để giới thiệu lịch sử và văn hóa của Hàn Quốc với người Mỹ, đặc biệt những người Mỹ gốc Hàn.

Để gìn giữ và phát triển hơn nữa nghệ thuật âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn truyền thống của Hàn Quốc, Trung tâm Quốc gia Nghệ thuật Biểu diễn Truyền thống của Hàn Quốc được thành lập năm 1951. Năm 1993, Chính phủ thành lập Trường Đại học Nghệ thuật Quốc gia Hàn Quốc dạy các ngành nghệ thuật theo hạng quốc tế và bồi dưỡng nghệ sĩ chuyên nghiệp. Trường đại học gồm sáu viện: Nhạc, Kịch, Múa, Nghệ thuật Nghe-Nhìn, Phim & Đa truyền thông, và Nghệ thuật Truyền thống Hàn Quốc. Viện Âm nhạc và viện Múa nằm ở Seocho-dong, trong khi các viện khác nằm tại Seokgwan-dong.

Kịch và phim

Kịch của Hàn Quốc bắt nguồn từ những lễ nghi tôn giáo thời tiền sử, trong khi đó nhạc và múa đóng vai trò khăng khít trong các buổi biểu diễn sân khấu truyền thống. Một ví dụ tiêu biểu của loại hình sân khấu cổ điển này là múa mặt nạ có tên gọi sandaenori hay talchum, một sự kết hợp của các loại hình múa, hát và kể chuyện xen lẫn sự châm biếm và hài hước. Với những biến đổi nhỏ từ vùng này sang vùng khác về lối diễn, lời thoại và trang phục, kịch rất được dân chúng nông thôn ưa thích tới tận đầu thế kỷ 20.

Pansori, bài hát kể chuyện dài dựa trên những tích phổ biến và kkokdugaksinoreum hay kịch rối, do những nghệ sĩ lang thang trình diễn, cũng thu hút số lớn khán giả. Gut, một nghi lễ của pháp sư, là một hình thức sân khấu tôn giáo khác có sức hấp dẫn quần chúng. Ngày nay người ta vẫn tổ chức các buổi biểu diễn tất cả các loại hình này tuy không thường xuyên.

Có một số ít các cơ sở cố định chuyên biểu diễn các loại hình nghệ thuật truyền thống, chẳng hạn Nhà hát Jeong-dong ở trung tâm Seoul. Nhà hát này trình diễn hàng loạt những chương trình nghệ thuật biểu diễn truyền thống, kịch và nhạc.

Buổi biểu diễn singeuk (phong cách kịch mới) đầu tiên vào tháng 12-1902 là một sự chuyển hướng của múa mặt nạ và các loại hình kịch truyền thống khác. Tuy nhiên kịch hiện đại chỉ bắt đầu có chỗ đứng vững chắc sau khi nhà hát đầu tiên theo phong cách phương Tây được khánh thành tại Seoul năm 1908. Nhà hát mang tên Wongaksa đã đi vào hoạt động vào tháng 11-1909.

Những người du học tại Nhật Bản về đã lập các nhóm sân khấu Hyeoksindan và Munsuseong và đưa lên sân khấu kịch sinpa (làn sóng mới). Sinpa là một khái niệm đối lập với kịch gupa (làn sóng cũ) có nghĩa là kabuki của Nhật Bản. Các vở kịch sinpa ngay từ ban đầu bàn về các chủ đề chính trị và quân sự, sau đó đa dạng hóa với các truyện trinh thám, kịch quảng cáo và bi kịch.

Trong khi kịch sinpa tỏ ra là mốt nhất thời, các nghệ sĩ đã tập họp lại quanh nhà hát Wongaksa phát triển làn sóng mới chân chính của kịch, mở màn cho kịch hiện đại. Năm 1922, Towolhoe, một nhóm phái bao gồm những nhân vật tên tuổi của giới sân khấu, đã được thành lập và tổ chức này đã dẫn dắt phong trào kịch nói phát triển trên khắp cả nước với 87 buổi biểu diễn. Kịch nói vẫn phổ biến đến tận cuối những năm 1930, sau đó đã lắng xuống do sự xáo trộn về xã hội và chính trị vào những năm 1940 và 1950. Trong thập kỷ tiếp theo, phong cách này đã bị giảm sút do sự bùng nổ của các rạp chiếu phim và sự xuất hiện của vô tuyến.

Vào giữa những năm 1970, một số những nghệ sĩ trẻ bắt đầu học hỏi, tiếp thu phong cách và đề tài của các tác phẩm sân khấu truyền thống như kịch múa mặt nạ, nghi lễ pháp sư và pansori. Quỹ Văn hóa và Nghệ thuật Hàn Quốc đã chủ trì một hội kịch hàng năm để khuyến khích những chương trình biểu diễn của địa phương. Hiện nay, một số lượng lớn các gánh hát đã hoạt động quanh năm trên khắp đất nước, trình diễn tất cả các thể loại từ hài kịch đến những vở anh hùng ca lịch sử trên các sân khấu nhỏ dọc theo Đường Daehangno ở trung tâmSeoul. Một số các buổi biểu diễn sân khấu đã thành công rực rỡ và được diễn lại nhiều lần.

Bộ phim đầu tiên do Hàn Quốc sản xuất ra mắt công chúng năm 1919. Với tiêu đề "Sự trả thù đứng đắn", đây là một loại kịch động kết hợp với loại hình sân khấu. Bộ phim truyện đầu tiên, "Lời thề dưới trăng" được trình chiếu trên màn ảnh năm 1923. Năm 1926, đạo diễn đầy tài năng Na Un-gyu sản xuất bộ phim "Arirang" được công chúng hưởng ứng nhiệt tình vì nó thể hiện sự phản đối ách áp bức của Nhật thông qua điện ảnh.

Sau chiến tranh Triều Tiên năm 1953, nền công nghiệp phim nhựa trong nước lớn mạnh dần và phát đạt trong khoảng một thập kỷ. Nhưng ngành nghệ thuật thứ bảy này bị đình trệ trong hai thập kỷ tiếp theo do sự phát triển của vô tuyến truyền hình. Từ đầu thập niên 80, ngành công nghiệp điện ảnh đã lấy lại được sức sống chủ yếu nhờ những đạo diễn trẻ đầy tài năng đã mạnh dạn vứt bỏ các khuôn mẫu cũ kỹ trong việc làm phim. Những nỗ lực của họ đã thành công tốt đẹp và những bộ phim của họ đã được công nhận tại những liên hoan phim quốc tế khác nhau, trong đó có liên hoan phim Cannes, Chicago, Berlin, Venice, London, Tokyo, Moscow và nhiều thành phố khác. Chiều hướng tích cực đã tăng lên vào những năm 1990 với ngày càng nhiều các nhà đạo diễn phim Hàn Quốc sản xuất những bộ phim làm lay động trái tim của các công dân trên thế giới dựa trên kinh nghiệm và những tình cảm độc đáo của Hàn Quốc.

Năm 2000, bộ phim “Chunhyangjeon” (Câu chuyện của Chunhyang) do Im Kwon-taek đạo diễn đã trở thành bộ phim đầu tiên của Hàn Quốc được đưa đi tranh giải tại Liên hoan phim quốc tếCannes. Bốn bộ phim khác cũng được chiếu tại đại hội này trong hạng phim không tranh giải. Bộ phim “Seom” (Đảo) của đạo diễn Kim Ki-duk được gửi đi thi tại Liên hoan phim.

Tiếp theo những bộ phim này, năm 2001, phim "Khu vực an ninh chung" được chọn để đi tranh giải tại Liên hoan phim quốc tế Berlin và một bộ phim khác của đạo diễn Kim Ki-duk, "Địa chỉ vô danh" đã lọt vào vòng xét giải của Liên hoan phim quốc tế Viên.

Đạo diễn Park Chan-wook giành Giải thưởng Lớn nhất của Ban giám khảo tại Liên hoan phim Cannes năm 2004 cho bộ phim "Old Boy". Ông cũng giành Giải thưởng Đạo diễn xuất sắc nhất ở Liên hoan phim quốc tế tại Bangkok cho "Old Boy" năm 2005 và phim "Sự thương cảm Quý bà Vengeance" năm 2006.

Công chúng ngày càng quan tâm đến những bộ phim đã được bình chọn và một số liên hoan phim quốc tế đã được chính quyền tỉnh hoặc các tổ chức tư nhân tổ chức. Trong đó có liên hoan phim quốc tế Pusan, Liên hoan phim kinh dị quốc tế Bucheon, Liên hoan phim quốc tế Jeonju và Liên hoan phim phụ nữ Seoul.

Cũng như tại các quốc gia khác, giới điện ảnh của Hàn Quốc đã cho thấy sự phát triển đáng kể của công nghiệp phim hoạt hình và phim biếm họa. Hơn 200 công ty đang sản xuất loại phim thuộc thể loại hiện đại này.

Các ngành công nghiệp phim nhựa, băng hình, phim hoạt hình và các nội dung truyền trên mạng, được các dịch vụ truy cập Internet tốc độ cao thúc đẩy, đang bùng nổ tại Hàn Quốc.

Vào năm 2003, ngành công nghiệp điện ảnh của Hàn Quốc đã gặt hái được thành công lớn tại các phòng bán vé. Thị phần của các phim trong nước đã vượt trên 53,5% nhờ những bộ phim đạt doanh thu khổng lồ, trong đó có bộ phim "Những người bạn", "Cô gái yêu kiều của tôi" và "Đá mặt trăng". Hàn Quốc đã sản xuất 240 bộ phim (với tổng giá trị sản xuất khoảng 11,2 triệu USD). Các rạp xi nê đã chiếu 65 bộ phim do Hàn Quốc sản xuất.

Năm 2007, tiếp sau việc cắt giảm đột ngột trong hệ thống hạn mức trình chiếu của năm trước thì đã có 392 bộ phim tryện được chiếu ở Hàn Quốc, tăng 60% so với năm 2003. Trong số đó có 113 bộ, tức gần 30% là do Hàn Quốc sản xuất.

Điện ảnh Hàn Quốc không có bước chuyển biến gì đặc biệt trong năm 2008. Đến năm 2009, đây được xem là bước khởi sắc mới đầy hy vọng của điện ảnh Hàn Quốc với 118 phim Hàn Quốc trong tổng số 361 phim điện ảnh được công chiếu trong nước. Năm vừa qua, điện ảnh Hàn Quốc thật sự đã có được những thành công nổi bật với nhiều bộ phim đạt được các giải thưởng quốc tế nổi tiếng cũng như mang lại lợi nhuận thương mại rất lớn như: “Sóng thần ở Busan”, “Cú nhảy”…Và tại LHP Cannes 2010 diễn ra tại Pháp tháng 5/201, bộ phim “Poetry” của đạo diễn gạo cội Lee Chang Dong đã dành giải thưởng kịch bản hay nhất đem lại luồng khí mới mẻ cho thể loại phim nghệ thuật.

Bảo tàng và nhà hát

Hàn Quốc có rất nhiều cơ sở văn hóa ở tất cả các cấp và các hạng, nơi người ta có thể thưởng thức triển lãm hoặc những chương trình biểu diễn quanh năm. Đến các địa điểm này, người ta có thể tận mắt nhìn thấy dù chỉ là sơ lược những thành tựu văn hóa và nghệ thuật của Hàn Quốc trước đây và hiện nay đối với các xu hướng và thị hiếu truyền thống và hiện đại.

Từ những bảo tàng quy mô lớn đạt tiêu chuẩn quốc tế đến các bảo tàng nhỏ nơi nghệ sĩ biểu diễn, khán giả có thể hòa trộn và giao tiếp tùy ý, các cơ sở này khác nhau về loại hình và quy mô để thoả mãn những thị hiếu và khuynh hướng của người xem.

Hàn Quốc có 358 bảo tàng, 31 bảo tàng thuộc số đó do chính phủ trung ương cấp vốn và điều hành hoạt động, trong đó có Bảo tàng Quốc gia của Hàn Quốc và Bảo tàng Dân gian Quốc gia ở trung tâm Seoul. Các bảo tàng khác nằm tại các thủ phủ tỉnh, một số trong đó là thủ đô của các vương quốc cổ đại. Đặc biệt, Gyeongju và Buyeo là hai nơi lưu trữ những báu vật lịch sử phản ánh những hào quang văn hóa của hai khu vực này. Như vậy, mỗi viện bảo tàng đều có một hương vị lịch sử riêng biệt.

Ngoài các bảo tàng quốc gia, bảo tàng công và các bảo tàng của trường cao đẳng và đại học, còn có hơn 155 bảo tàng tư nhân tại Hàn Quốc do các công dân, các tổ chức tôn giáo và các các doanh nghiệp lập ra.

Những bộ sưu tập của những viện bảo tàng này hầu hết đều tập trung vào các đồ tạo tác văn hóa đòi hỏi cả một đời người để thu thập. Các bộ sưu tầm bao gồm từ hội họa dân gian, sách, các hiện vật tôn giáo, đồ đạc và đồ thêu cho đến quần áo truyền thống.

Trong những năm gần đây, các viện bảo tàng với các bộ sưu tầm khác thường đã xuất hiện trong đó có viện bảo tàng kim chi, cải thảo và củ cải muối mang thương hiệu Hàn Quốc.

Hàn Quốc có hơn 80 nhà hát đa năng. Nhà hát quốc gia, thành lập năm 1950, được xây dựng dưới chân núi Namsan ở trung tâmSeoul. Với mục đích bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống và nghệ thuật biểu diễn đương đại, Nhà hát quốc gia đã trải qua nửa thế kỷ gian khổ và thay đổi, và ngày nay có quyền tự hào chính đáng về bốn công ty trực thuộc nhà hát, biểu diễn khoảng 35 chương trình hàng năm.

Trong số bốn công ty đó có Công ty Kịch Quốc gia, Công ty Changgeuk Quốc gia (Nhạc kịch Hàn Quốc) và Dàn nhạc Truyền thống Quốc gia. Các công ty này thường tổ chức các chuyến biểu diễn đặc biệt tại nước ngoài và trên khắp đất nước. Ngoài bốn công ty trực thuộc nhà hát, ba công ty khác cũng hoạt động tích cực đó là: Công ty Nhà hát Quốc gia, Công ty Ba lê Quốc gia và Đoàn Hợp xướng Quốc gia. Ba công ty này đã được thành lập lại để trở thành những công ty độc lập tại Trung tâm Nghệ thuật Seoul vào tháng 2 năm 2000.

Bảo tàng Quốc gia Nghệ thuật Đương đại Hàn Quốc nằm tại công viên có nhiều cảnh đẹp phía nam Seoul, nơi đã cho ra mắt bộ sưu tập phong phú các tác phẩm nghệ thuật của Hàn Quốc và phương Tây thế kỷ 20.

Phòng trưng bày nghệ thuật đã tăng khá mạnh trong hai thế kỷ qua để thoả mãn sự quan tâm của quần chúng đang ngày càng tăng lên đối với mỹ thuật. Các phòng trưng bày nghệ thuật thuộc đủ quy mô và tính chất tập trung tại các khu vực như Insa-dong, trung tâm Seoul, được người nước ngoài cư trú tại đây gọi là "Ngõ của Mary"; Sagan-dong, gần cung điện Gyeongbokgung và Cheongdam-dong ở nam Seoul.

Một trong những nhà hát đa năng lớn nhất của Hàn Quốc là Trung tâm Nghệ thuật Biểu diễn Sejong nằm ở giữa Seoul. Trực thuộc Trung tâm nghệ thuật này, được mở năm 1978, là Dàn nhạc Những người yêu nhạc của Seoul, Dàn nhạc Truyền thống Hàn Quốc của Seoul, Dàn Hợp xướng thành phố Seoul, Công ty Nhà hát Seoul, Công ty Nhạc Seoul, Công ty Múa Seoul, Công ty Opera Seoul, Dàn Hợp xướng nam nữ thành phố Seoul và Dàn nhạc Trẻ của thành phố Seoul. Hội trường chính của trung tâm có 3.800 chỗ ngồi và đàn oóc gan ở đây thuộc loại tốt nhất thế giới.

Trung tâm Nghệ thuật Seoul, nằm ở nam Seoul là một trung tâm nghệ thuật đa ngành đầu tiên và là trung tâm văn hóa của Hàn Quốc. Trung tâm nằm trên diện tích đất rộng 234.385 m2 với tổng diện tích sàn 120.951 m2, được khánh thành trong ba giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1993.

Với kiến trúc đẹp, Nhà hát thành phố (nằm trong Trung tâm Nghệ thuật Seoul) gồm ba nhà hát riêng rẽ. Nhà hát opera với 2.278 chỗ ngồi, được trang bị để tổ chức những chương trình biểu diễn nhạc kịch ba lê hoành tráng và các chương trình khác. Nhà hát Towol, với 669 chỗ ngồi, là một nhà hát tầm trung nơi biểu diễn các vở kịch, nhạc kịch nhỏ và múa hiện đại.

Nhà hát Jayu, có thể chứa 350 khán giả, giành cho những buổi biểu diễn thử nghiệm và các tiết mục mới. Phòng hòa nhạc, với sức chứa 2.600 chỗ ngồi, là một hội trường lớn cho các dàn nhạc có đầy đủ các nhạc cụ. Phòng độc tấu 380 chỗ ngồi là nơi giành cho độc tấu hay các dàn nhạc thính phòng. Trung tâm cũng có Phòng trưng bày tranh, Phòng thư pháp, Thư viện nghệ thuật, Nhà hát ngoài trời và Phòng lưu trữ phim.

Từ khi Nhà hát được hoàn thành, Trung tâm nghệ thuật Seoul đã được các nghệ sĩ từ các ngành đón nhận như một địa điểm duy nhất để bồi dưỡng, khuyến khích và sáng tạo các công trình nghệ thuật. Là một trung tâm mang tầm cỡ thế giới, Trung tâm nghệ thuật Seoul ngày nay đang đảm nhiệm vai trò dẫn dắt văn hóa Hàn Quốc tiến vào thế kỷ sau.

Nguồn: Du học OSC sưu tầm từ Internet

Xem thêm: du hoc ireland du hoc philippines dịch tiếng anh bằng hình ảnh

link 188bet khong bi chan

link vao 188bet

link vao fun88, w88, v9bet

tin hoc ic3

chung chi a2

nhận định bóng đá

tips bóng đá

tỷ lệ bóng đá


CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN DU HỌC VÀ DỊCH THUẬT OSC    

Trụ sở Hà Nội: Tầng 4, tòa nhà MHDI, Số 86 Lê Trọng Tấn, Khương Mai, Thanh Xuân, Hà Nội 

Điện thoại: 1900 6689 / 02435 666 668
Email: duhoc@osc.edu.vn  

VPĐD Hải Phòng: Số 68, Lô 26 D,  Đường Lê Hồng Phong, P. Đông Khê, Q. Ngô Quyền, TP Hải Phòng
Điện thoại: 0225.3821.568 / 0987 932 932
Email: luongnguyen@osc.edu.vn

  CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN DU HỌC HÀN QUỐC OSC 

Tư vấn du học Hàn Quốc 2015 - 2016

Chuyên trang du học OSC:  du học nhật bản du hoc han quoc du hoc dai loan du hoc han quoc du hoc ireland